Chào mừng quý thầy cô và bạn đọc đến với website của Thư viện trường Tiểu học 2 Văn Quan
Nhiệt liệt chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Đảng Đã Cho Ta Một Mùa Xuân
11 Bài hát thiếu nhi hay | Lyric By Bông Hoa Nhỏ Reply
Tấm lòng vàng

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Lương Bích Thủy
Ngày gửi: 14h:43' 15-12-2025
Dung lượng: 403.3 KB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Lương Bích Thủy
Ngày gửi: 14h:43' 15-12-2025
Dung lượng: 403.3 KB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Tấm Lòng Vàng - Nguyễn Công Hoan
1. Vua Zéro
2. Ai?
3. Lúc vẻ vang
4. Phân vân
5. Hối hận
6. Tháng ngày qua
7. Quan huyện
8. Thầy trò
9. Tính việc
10. Công việc
11. Lòng mẹ
12. Những ngày cuối cùng
Tấm Lòng Vàng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Nguyễn Công Hoan
I
Vua Zéro
Này! Các anh! Thế nào nhỉ? Ở đám tế, muốn bảo đứng dậy, họ xướng thế nào nhỉ? Hơơơng. À
phải...
Nói xong, anh Tam khuỳnh hai tay ra đằng trước, dài giọng ra mà:
- Hơơơng!
Tiếng cười rầm rầm:
- Kìa vua Zéro! Ngài có nghe tiếng không?
- Ngài lờ mãi! Ngài quỳ gan thế!
Tiếng vỗ tay đôm đốp:
- A hay! Hơơơng! Đức ơi! Hơơơng! Ơ nó cứ quỳ bạt mạng đi thôi!
Anh em cười nôn ruột. Nhưng thầy giáo hất tay, bắt mọi người đi chơi xa.
Từ lúc ấy, sân trường mới được vui vẻ. Chỗ này, vài anh đuổi nhau. Chỗ kia, vài anh rủ nhau
đánh bi. Cạnh hàng rào anh Thơm nhồm nhoàm chiếc bánh tây. Ở góc trường, anh Lục hút
thuốc lá vụng. Anh Đa, anh Banh khoác tay nhau, đi bách bộ, lầm bầm đọc bài chốc nữa. Anh Tý
vạch xuống đất để hỏi anh Học bài tính vừa rồi.
Chẳng còn ai để ý đến Đức đang quỳ ở góc lớp ba như ban nãy nữa. Ông giáo Chính ngồi ở bàn
giấy, gấp quyển vở lại, gọi:
- Đức! Anh lại gần đây.
Rồi thầy nghiêm nét mặt, nhìn Đức. Đức, khoanh tay, cúi gầm, e lệ đến cạnh bàn thầy đứng im.
Ông giáo trỏ quyển vở, trang nghiêm nói:
- Anh không đáng tên là Đức! Anh ngẩng lên nhìn tôi đây.
Đức sợ hãi, thưa:
- Dạ!
- Vở anh giữ rất sạch sẽ, sao không bài nào anh thuộc!
Đức im lặng, không đáp.
- Tôi nhận thấy độ ba tháng nay, anh đổi khác hẳn. Trước anh chăm chỉ bao nhiêu, nay anh lười
biếng bấy nhiêu. Tại làm sao thế?
Đức vẫn không đáp.
- Tôi rất không bằng lòng. Các bạn anh đặt tên anh là vua Zẻro! Anh hay phải phạt! Anh có xấu
hổ không?
Thẹn thùng, Đức khẽ đáp:
- Bẩm thầy, có.
- À, có! Vậy sao anh không chịu học? Sao anh còn lười? Lười đến nỗi cả quần áo cũng để bẩn
thỉu quá! Tôi tiếc cho anh rất sáng dạ. Anh phải biết, người sáng dạ đến đâu mà lười, cũng
không bằng người tối dạ mà chăm. Tôi phạt anh là để anh sửa lỗi. Nhưng nếu anh không sửa
lỗi, thì từ nay tôi không phạt nữa.
Đức cảm động, hai mắt mọng những nước.
Ông giáo nói tiếo:
- Trước anh là một người học trò rất ngoan ngoãn. Tôi tưởng lên lớp này, anh vẫn ngồi đầu như
năm ngoái ở lớp tư. Thế mà chỉ được một tháng, rồi anh đổi khác hẳn. Tuy trong lớp, anh
không nghịch ngợm, anh chịu khó nghe, anh trả lời được những câu hỏi khó, nhưng đến bài học
là anh không thuộc bao giờ, có khi bài làm, anh cũng bỏ dở. Giá anh chịu khó một tí đã đủ hơn
anh em rồi. Vậy mà đến bây giờ, trong năm mươi người, anh ngồi thứ bốn mươi sáu! Anh có
thấy rằng anh học lùi lại không?
- Bẩm thầy, có.
- Tại làm sao anh về nhà không chịu học? Có phải anh đã làm phiền cho cha mẹ tốn kém vì anh
không?
Nói xong, thầy im, nhìn Đức một lúc để cho lời nói ấy thấm thía đến tận đáy lòng ĐứcThì quả nhiên, ở mắt Đức, hai giọt nước ứa ra, to dần, rồi chảy dài xuống má.
Nhưng thầy vờ mắng:
- Anh còn cho là oan, phải không?
Đức lấy vạt áo chùi nước mắt, đáp:
- Bẩm thầy, không phải thế ạ.
- Được, thầy me anh có nhà không? Rồi tôi đến chơi để mách rằng anh lười biếng.
Đức nức nở, khóc to ra tiếng.
Ông giáo lấy làm lạ, hỏi to:
- Sao anh khóc?
- Bẩm thầy, con có dám lười đâu.
Thấy câu nói vô lý, thầy cau mặt lại. Nhưng rồi thầy cười gằn và hỏi vặn:
- Hừ! Anh không dám lười! Thế tại làm sao không bài nào anh thuộc? Anh ở nhà làm gì?
Đức run run đáp:
- Bẩm thầy, tại ở nhà, con không được học.
Rồi Đức òa lên khóc.
Ông giáo nhìn Đức, chừng cũng cảm động, ông thở dài. Rồi nghĩ ngợi một lúc, chờ cho Đức lau
nước mắt, ông dịu dàng, hỏi:
- Tại làm sao anh không được học? Anh nói dối! Ai cấm anh học?
- Bẩm thầy, bà chủ nhà con.
- Nhà trọ ấy à?
- Vâng.
- Tại làm sao?
- Tại bà ấy không cho con học.
- Sao lại không cho?
- Bẩm thầy, đã bốn tháng nay, con không trả tiền trọ.
Ông giáo ngồi thẳng lại, cau mặt nghĩ rồi hỏi:
- Nhưng bà ấy cấm anh học bài à?
- Bẩm không cấm, nhưng con không có lúc nào để học bài cả.
- Thế buổi sáng, sao anh không chịu khó dậy sớm để học?
- Thưa thầy, sáng nào con cũng dậy từ bốn giờ. Nhưng con phải thổi cơm để bà ấy ăn rồi đi chợ.
Khi con rửa bát và cho lợn ăn xong, thì đã gần giờ học.
- Buổi trưa?
- Buổi trưa, bà ấy giao cho con nhuộm vải hoặc kiếm củi.
- Buổi chiều, nhiều thì giờ, sao anh không học sẵn?
- Buổi chiều, tan học, con phải đi đón gánh hàng cho bà ấy. Rồi về nhà thổi cơm. Bữa ăn người
và bữa ăn lợn xong là vừa tối.
- Thế lúc xong việc, anh để thì giờ làm gì?
- Bẩm thầy, hôm nào con không phải chia bài, thì bà ấy sai con các việc lặt vặt. Con chẳng được
lúc nào rỗi cả. Con biết rằng con lười học thì thầy ghét, nhưng con biết làm thế nào?
Đức nói đến đây, lại bưng mặt khóc. Rồi một lát, Đức thưa:
- Thấy không có thì giờ làm việc nhà trường, nhiều bận con muốn xin phép thầy thôi học,
nhưng con lại tiếc. Con tiếc kỳ thi Sơ học yếu lược sắp tới này.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, thầy hỏi:
- Thế nhà anh không có đày tớ à?
- Bẩm thầy, đã ba tháng nay bà chủ con cho thằng nhỏ về, nói rằng đã có con thay nó.
Ông giáo nhăn mặt, đăm đăm đôi mắt:
- Thế bà ấy có hay đánh anh không?
- Bẩm có, vừa đánh, vừa hay nhiếc. Thỉnh thoảng, con đi mượn sách, bà ấy cũng bảo con đi
chơi, dọa đuổi mấy lần.
- Thầy anh đâu?
- Bẩm thầy, thầy con mất rồi.
- Thế me anh?
Đức lặng người, không đáp được. Ông giáo hỏi gặng:
- Thế me anh đâu?
- Bẩm thầy, u con đi lấy chồng.
- U anh không cho anh tiền cơm nữa à?
- Bẩm thầy, trước thì tháng nào u con cũng gửi tiền cho, mỗi tháng ba đồng. Nhưng một độ, con
không thấy u con cho tiền. Rồi dì con qua huyện, nhắn cho con biết rằng u con mới mất độ
tháng chín.
Ông giáo Chính động lòng, nhìn Đức, thương hại. Nhưng hình như ông thấy có một chỗ vô lý
trong câu nói của Đức, bèn hỏi:
- À, anh bảo u anh mất, sao tôi không thấy anh để tang?
- Bẩm thầy, con không có khăn áo tang. Mà dù có cũng không dám mặc, vì sợ bà chủ con biết
con mồ côi, thì đuổi con thật.
- Thế anh vần giấu bà chủ à?
- Vâng, vì nhà u con ở xa đây lắm.
Ông giáo Chính cắn môi, ra ý nghĩ ngợi, rồi lại nghiêm mặt, nói:
- Thễ họ hàng thân thích anh, có ai ở gần đây không?
- Bẩm, không có ai ở gần đây, vì họ hàng cha dượng con thì ghét con, mà họ hàng cha đẻ con thì
bỏ con. Họ ngoại con nghèo quá.
Thầy lặng một lúc, nhìn Đức, rồi nói:
- Nhưng dù thế nào, anh cũng phải chăm chỉ, vì anh là học trò. Thôi, cho ra chơi.
Đức ngậm ngùi, ra hiên rồi xuống sân. Ông giáo nhìn theo, rồi sang lớp khác.
- A ha! Vua Zero!
- Hơơơng!
Anh em túm lại chế nhạo. Đức đứng thần người ra, ủ rũ như con gà bị nước mưa, không cười
không nói.
Anh Tam đến gần Đức, chắp hai tay, vái một cái thật dài, rồi bắt chước Đức lúc không thuộc bài,
khoanh tay nhìn lên trần, vân vê chiếc khuy áo.
Anh Sinh bưng miệng bấm anh Tòng, khẽ nói:
- Gớm, tóc nó dài và xù như cái mái nhà rơm mới lợp.
Anh Bàng, đứng sau Đức, ghé mặt vào cổ áo, rồi bịt mũi.
Anh Tụng vờ trỏ cái núi đằng xa nhưng quặp hai ngón chân vào chỗ rách ở quần Đức, giật
mạnh cho toạc to ra.
Thấy vậy, anh Tam cười sằng sặc, pha trò thêm:
- Để cái cửa sổ rộng cho nó mát. Ồ! Quần vua Zéro thêu hoa thịt, chúng mày ạ.
Nhưng ông giáo thấy tiếng cười ầm ầm, chạy ra. Anh em tản mỗi người một nơi, xong còn quay
lại nhìn Đức, bộ dạng bơ phờ, mà nhăn răng ra cười. Các anh ấy cười cái áo thâm nước dưa vừa
rộng vừa dài như áo mượn.
Đức vẫn đứng im như không tủi thẹn vì sự chế giễu thâm ác của bạn, mà chỉ tủi thẹn vì cái tình
cảnh khốn nạn của mình vừa giãi bày với thầy giáo Chính mà thôi.
II
Ai?
Buổi học chiều hôm ấy, Đức lại làm cho anh em trong lớp phải một phen nhịn cười không
được: Đức lại không thuộc bài.
Ai nấy đều tròng trọc nhìn Đức và sắp sẵn miệng để cười.
Cạnh bàn thầy, Đức đứng khoanh tay, mặt tái xanh, ấp a ấp úng mãi:
- Thấy người i-a hoạn nạn thì i-a thương.
I-a thấy i-a người tàn tật i-a lại càng trông i-a nom.
Người ngồi bàn đầu khẽ nhắc Đức, nhưng thầy gõ thước vào bàn, nói:
- Im!
Mọi bận, muốn chế nhạo những anh lười biếng, thầy hay bắt chước bộ dạng lúng túng lúc
không thuộc bài. Thầy vớ hòn phấn, thầy vân vê khuy áo nách, thầy trợn mắt nhìn lên trên trần,
thì học trò phải cười nôn ruột.
Trái lại, lần này thầy cứ ngồi nghiêm chỉnh, chẳng nói chẳng rằng, nên mọi người im lặng và
đều yên trí rằng vua Zéro lại được ăn trứng của thầy.
Vậy mà lạ quá, thầy thấy Đức đứng ngay như tượng gỗ, lại không hề nói năng một câu nào.
Thầy nhìn Đức ra ý chán nản, rồi đặt bút xuống bàn, thở dài và hỏi cả lớp:
- Như thế này thì đáng sửa phạt bằng cách gì?
Anh em nhao nhao nói:
- Thưa thầy, đáng Zéro ạ.
- Thưa thầy, phạt quỳ ạ.
Nghe xong, thầy nhìn Đức, lắc đầu cười lạt, bảo:
- Nhưng mà... mời anh về chỗ!
Thấy cách sửa phạt ngọt ngào này còn đau đớn bằng mấy con Zéro, bằng mấy mươi lần chép
phạt, bằng mấy mươi buổi quỳ, bằng mấy giờ nghe mắng, Đức cúi đầu, lủi thủi về chỗ, mặt đỏ
như gấc. Rồi, nhớ lại câu thầy hẹn lúc sáng, Đức tủi thân gục đầu xuống bản.
- Thưa thầy, anh Đức khóc ạ.
Nghe tiếng anh Chi mách, Đức vội vàng lau nước mắt, ngẩng mặt lên. Đức thấy bạn bè anh nào
cũng có ý giễu cợt mình, lại thấy thầy giáo ghét bỏ, hờ hững thì lấy làm oán trách cả mọi người.
Đến giờ chơi, Đức cố ý ra sau cùng để mong thầy gọi, và được nghe xem thầy trừng phạt những
gì, nhưng mà không, thầy thu xếp sách vở, rồi cũng ra đứng ở hè, nói chuyện với thầy giáo lớp
khác.
Đức đứng yên một chỗ, lắng tai nghe, thấy thầy giáo đang phàn nàn về mình và nói rất to với
các thầy giáo khác:
- Nó lại không thuộc bài! Nhưng ai hơi đâu mà phạt!
Đức tái mét mặt, rùn cả mình.
Bỗng anh Thi chạy đến, bảo:
- Kìa anh Đức, các thầy gọi.
Đức sợ hãi, thong thả lại chỗ các thầy đứng. Vừa đến nơi, ông giáo Chính như gớm mặt Đức,
không nói gì cả, lững thững đi về lớp.
Đức thấy vậy, càng tủi thân. Anh em bạn xúm quây xung quanh, lại làm cho Đức bối rối thêm
nữa.
Ông giáo Tuệ ôn tồn khuyên bảo:
- Anh không thuộc bài, thầy giáo không bằng lòng đâu. Phải chăm học như năm ngoái mới
được chứ!
Đức khoanh tay, nhìn xuống, không nói gì. Đức không nói gì, vì Đức cho rằng nếu kể lại cho các
thầy biết cái cảnh nhà mình, tất anh em bạn nghe thấy, họ sẽ chế nhạo, và, dù các thầy có biết,
mình cũng không được ích gì hơn.
Thầy giáo trỏ tay ra đường, nói:
- Kìa anh trông, cái xe kia chất nặng những bồ cùng đẫy, người phu xe gò lưng cố miết không
được một bước...
Bỗng, học trò kéo cả ra bờ rào, reo!
- A, thằng ăn cắp!
Thầy giáo lại bảo:
- Anh nhìn kia, thằng ăn cắp, người ta trói nó, giải nó về huyện. Anh có thấy người lính đi cạnh
nó, tay cầm cái roi mây hay không?
- Thưa, có ạ.
Ngay lúc ấy, có chiếc ô-tô ù ù đi tới bốp còi inh ỏi. Các người gồng gánh đi giữa đường luống
cuống chạy tán loạn, người đâm sang bên trái, người dồ sang bên phải. Chiếc xe vội hãm máy
lại. Người tài xế thò cổ ra chửi rủa cục cằn.
Thầy giáo nói:
- Suýt nữa thì có người bị chẹt.
Rồi thầy lại nhìn Đức, ôn tồn nói:
- Bên mình anh bao nhiêu gương to tầy liếp. Người phu xe phải sống một cách vất vả. Thằng ăn
cắp phải làm những cách đê nhục. Bác nhà quê, vì ngờ nghệch quá, đến nỗi suýt bị thiệt thân,
vậy anh có biết những người ấy vì sao phải khổ sở như thế không?
Khe khẽ, Đức đáp:
- Bẩm thầy, vì họ không có học.
Thầy gật đầu:
- Phải rồi, những người ấy rất đáng thương. Nhưng anh có biết vì sao họ không học?
Ngẫm nghĩ một lúc, Đức ngậm ngùi, trả lời:
- Bẩm thầy vì họ nghèo.
Các thầy nhìn Đức, có ý cảm động về câu nói bất ngờ.
Ông giáo Tuệ lại nói:
- Tình cảnh anh thế nào, sáng nay thầy giáo vừa nói chuyện cả. Nhưng anh không nên lấy cớ
rằng nghèo mà xao lãng sự học. Anh chẳng thấy ngày xưa, có người vừa kiếm củi vừa học, lại
buổi tối không có đèn thì bắt đom đóm bỏ vào trong quả trứng để lấy ánh sáng hay sao? Không
nên bỏ phí tuổi trẻ, rồi lúc lớn lên lại tiếc. Thôi, đi chơi.
Đức chào các thầy, len lén ra góc sân.
- Ê, Đức nặng đực, động đứng đọc bài là đực mặt ra.
Rồi tiếng cười, tiẽng vỗ tay đồn dập.
Nhưng ông giáo Nhượng xua tay, mắng:
- Im! Không được thế. Đi chơi cả!
Ngẫm nghĩ lời thầy Tuệ, Đút như thấy rõ cái đời khốn nạn của mình về sau. Làm thế nào được?
Đức thông minh, có chí, nhưng không được học. Về đến nhà, Đức còn bao nhiêu công việc, có
lúc nào rảnh để nhìn đến sách vở nhà trường. Thế thì ngày sau, tất Đức phải hèn hạ, phải kéo
xe, phải ăn cắp, hoặc phải ngờ nghệch.
Đức nhìn vào lớp, thấy các thầy nói chuyện vui vẻ. Ở sân, các anh em chạy nhảy, cười đùa.
Riêng mình đứng tiu nghĩu một nơi. Đức tiu nghỉu vì đã làm thiếu bổn phận.
Bỗng ba tiếng trống học. Đức cùng anh em sắp hàng vào.
Đức ngồi ở chỗ, chán ngán quá. Đức thấy quanh mình, cả từ thầy giáo đến bạn bè không ai
thương hại tình cảnh Đức cả.
Mà nhất là thầy, thầy đã hất hủi đứa trẻ mồ côi nghèo khổ.
Hết giờ thể thao, Đức vội vàng mặc quần áo để về. Hết lo việc trường, lại nghĩ đến việc nhà, Đức
sợ.
Đến nhà, Đức cất sách, cởi cái áo thâm ngoài ra, rồi đi đón bà chủ.
Nhưng vừa đến cửa, Đức đã thấy bà chủ về tới nơi. Bà nhìn Đức, nghiến răng, nói:
- Tao chờ được mày nữa thì vừa. Thật là toi cơm! Còn đi nghịch phải không? Mai có nẻo thì
bước!
Rồi bà đặt gánh, tìm chiếc roi, vụt lấy vụt để vào lưng Đức và kể lể:
- Mấy tháng cơm mày không trả được, bà chỉ đánh cho sướng tay thôi.
Đức đau quá, nhưng không dám khóc, mà cũng không dám cãi.
Lúc cho lợn ăn, Đức ngồi ở cạnh chuồng, vừa mở quyển vở được vài tờ toan học, bỗng đánh đét
vào lưng, Đức lại bị một roi đau quắn:
- Mày chăm học vừa vừa chứ. Mày không nghiêng cái lon thì nó ăn thế nào. Muốn chăm học thì
bước, tao không hoài cơm!
Rồi bà phăm phăm vật Đức ngã xuống, vụt túi bụi.
Bỗng bên hàng rào có tiếng can:
- Bà Phó ơi! Thôi, bà đừng đánh nó, tội nghiệp!
Đức nghe rõ tiếng bà cả Tài. Một lát, bà cả Tài lại nói:
- Tối hôm nay, bà cho tôi nhờ thằng Đức sang giã hộ cối gạo. Độ đến cuối trống hai nhé.
Bà chủ đáp một cách phũ phàng:
- Bà để cho đến tối. Nó còn phải gánh đất. Chả sai nó cho bõ cũng dại.
Đức nghe, lấy làm đau đớn lắm.
Dọn dẹp và làm công việc ở nhà xong. Đức thu quyền vở vào trong bụng, xin bà chủ sang nhà
bà cả Tài.
Đến nơi, bà cả Tài đặt vào gan bàn tay Đức một xu, và dịu dàng nói:
- Tôi thấy bà ấy đánh anh, tôi thương hại quá, nên mới vờ mượn anh sang đây. Đây, tôi thuê
anh đồng xu này, anh giã giúp tôi cối gạo nhé.
Đức lắc đầu, đáp:
- Bà cho cháu mua xu dầu tây và cho cháu mượn cái đèn, cháu vừa làm giúp bà, vừa học.
- Thế ở nhà, anh không được học à?
- Bà tính còn lúc nào cầm được đến quyển sách!
Ngậm ngùi, bà Tài bảo:
- Anh trọ học chứ có phải đi ở đâu mà để bà ấy sai và đánh như đày tớ thế?
Đức cười lạt, đáp:
- Vì mấy tháng nay, cháu không có tiền trả bà ấy.
- Thế à? Thế thì làm thế nào?
Đức ngẫm nghĩ, càng quyết định xin thôi học. Một đứa trẻ con như sức Đức, không thể vừa làm
đày tớ, vừa làm học trò. Đức cần phải sống, thì cách kiếm cơm ngay bây giờ, không gì hơn là đi
ở để đổi lấy bát cơm nuôi thân, Đức đáp:
- Cháu muốn xin thôi học, vì đi học mà lười thì thầy giáo và anh em ghét lắm.
Rồi Đức kể cho bà Tài nghe những câu chế nhạo của bạn. Bà cả Tài ra ý thương hại, bảo:
- Anh sang đây ở với tôi, tôi nuôi cho, anh sẽ có thì giờ mà học. Bỏ phí tuổi trẻ không nên, anh
ạ. Hay là từ mai, tôi nói thác với bà chủ anh cho anh sang đây giã gạo hộ tôi, tôi sẽ cho anh
mượn đèn mà học.
Bà cả Tài lấy chiếc đèn hoa kỳ, đưa Đức. Đức đặt quyển vở trên phản, rồi xuống bếp thổi lửa để
châm đèn.
Bà cả Tài đổ gạo vào cối xong, dặn:
- Anh chịu khó cẩn thận, tôi đi đằng này một tí nhé.
Đức tìm chỗ để đèn cho vừa tầm mắt, rồi chân thì dận cối, tay thì giở vở, nhưng chán ngán lạ
thường. Thấy bà cả Tài tử tế, Đức cũng biết vậy, chứ chắc đâu bụng bà ấy có thực tốt không.
Đức quyết định hôm sau xin bỏ học. Nhưng Đức muốn học các bài cho thật thuộc, để thầy giáo
và bạn bè đừng khinh mình, rồi hãy xin thôi. Thấy sắp được xa lánh bọn anh em thâm độc, sắp
khỏi phải trông thấy thầy giáo lúc nào cũng nghiêm khắc, chỉ rình phạt, rình mắng, rình khuyên
bảo những câu không làm cho Đức được no lòng, Đức sung sướng, nhẹ nhõm cả người. Rồi nghĩ
ngợi. Đức thấy tủi thân, giận thầy, ghét bạn và thù bà chủ.
Trong khi óc đang vơ vẩn, Đức lần lần giờ từng tờ trong quyển vở. Mỗi bài học lại nhắc cho Đức
những buổi phải phạt, những câu mắng. Đức như trông thấy thầy giáo ở trước mặt, Đức khó
chịu lắm.
Bỗng Đức dừng tay lại, kinh ngạc, Đức trợn to mắt ra, ghé vở vào tận ngọn đèn. Đức mừng rú
lên, bâng khuâng, tưởng như mình vừa chiêm bao thấy một chuyện thần tiên huyền hoặc. Rồi
Đức rơm rớm nước mắt. Đó là chuyện thực.
Ba tờ giấy bạc một đồng gài chéo trong sách, bay lật trước luồng hơi thở nóng hôi hổi của Đức.
Đức rủn cả người, trống ngực đánh mạnh. Thổn thức đến nỗi không đận được cối nữa, Đức gập
quyển vở, ôm vào ngực mà thở dài.
Đối với Đức, ai là người đã có tấm lòng vàng? Đức cố nghĩ mãi. Bà cả Tài chăng? Thầy giáo Tuệ
chăng? Anh bạn nào chăng? Hay là ai? Thế thì ai? Ai được?
Bụng Đức rối beng! Nhưng ai thì ai. Đức hãy lấy món này để trả tiền trọ cho bà chủ đã...
III
Lúc vẻ vang
Đức run run, cất bạc vào túi. Từ thuở bé, Đức có món tiền to thế này là lần đầu. Ngẫm nghĩ, Đức
đoán già là chính bà cả Tài đã lừa cho Đức thổi lửa ở dưới bếp, mà gài ba đồng bạc vào sách rồi
muốn giữ kín, bà vờ đi chơi.
Đức cố rồi dò cho ra ai là vị ân nhân này.
Từ lúc ấy, Đức dận cối rất nhanh nhẩu, quên cả mệt. Đức học bài cũng chóng thuộc quá, chẳng
bù với mọi lần, càng bận việc, càng lo học, thì không tài nào nhớ được một chữ.
Một lúc lâu có tiếng bà chủ gọi ở bên kia hàng rào:
- Đức! Mày chết ở bên ấy hay sao mà không về thế?
Đức cười thầm, đáp:
- Dạ, con đây. Con chờ bà cả, rồi con về.
- Thôi, nửa đêm rồi. Mau lên, nỡm ạ.
Nghe cái giọng thc thé, Đức lại tưởng tượng đến bộ mặt cay nghiệt của bà chủ mà sợ. Vừa chưa
kịp trả lời, Đức đã thấy bà cả Tài về, vì vội vã giục Đức:
- Thôi, anh về đi. Ở ngoài đường, tôi cũng nghe thấy tiếng bà ấy gọi anh đấy.
Đức ngần ngừ, toan nói chuyện món tiền khi nãy:
- Bà ạ.
Bà cả Tài lại giục:
- Thôi, mai hãy hay. Mai tôi lại nói với bà ấy nhờ anh sang đây nhé.
- Vâng. Cháu đội ơn bà nhiều.
Dứt lời, Đức lật đật chạy về.
Bà Phó thấy Đức thì hầm hầm xỉa xói vào mặt mà mắng:
- Chà ở bên ấy được chơi mà, mày chỉ biết ăn hại thôi.
Nói xong, bà giơ thẳng tay, phát vào lưng Đức một cái rõ mạnh. Đức rúi, suýt ngã.
Đức câm như hến, không dám nói đi nói lại nửa lời. Bà chủ càng tức:
- Làm sao trong bếp mày để trấu bừa bãi ra thế kia? Muốn sống thì xuống mà quét đi không?
Đức lừng lững xuống bếp. Thấy thằng khốn nạn bao giờ bị mắng cũng gan góc, bà Phó còn quát
theo một câu:
- Mặt thì sì sì ra! Ai người ta cũng phải tởm.
Lần này bị diếc móc, Đức không tủi thân tí nào, vẫn vui vẻ như thường. Đức thu dọn xong, rồi
lên nhà trên. Thấy bà chủ vẫn còn đầy vẻ giận dữ, Đức mon men lại gần, tay móc túi lấy tiền,
miệng tủm tỉm cười, nói:
- Thưa bà...
Bà chủ vội nghiến răng, đáp:
- Thưa với bẩm gì? Mày đừng khéo vờ. Đi mà ngủ...
- Thưa bà, con nộp bà...
Bà chủ vẫn quát:
- Nộp gì?
Đức thò giấy bạc ra, vẫn nhếch mép cười, nói tiếp:
- Thưa bà, tiền cơm.
Bà chủ cúi trông tay Đức, rồi trố mắt lên mà nhìn. Khi không còn ngờ gì nữa, bà vội đổi ngay ra
nét mặt tươi cười, vui vẻ, và dịu dàng hỏi:
- Kìa, anh trả tiền cơm tôi đấy à?
Đức hả dạ, khẽ đáp:
- Vâng.
Nói xong, Đức đưa mắt nhìn nét mặt đáng khinh của bà chủ. Bà chủ âu yếm hỏi:
- Ai gửi cho anh tiền thế?
- Thưa bà... Thưa bà...
Đức ấp úng, nghẹn lời, bởi vì chưa biết đáp thế nào cho có lý được. Bà chủ lại hỏi dồn:
- U anh gửi cho anh có phải không?
Sẵn câu ấy, Đức cứ nói:
- Vâng.
- Hà! Hà! Thế sao anh không mời u anh vào chơi với tôi một tí? Thế u anh qua đây lúc nào?
- Thưa bà, u con gửi dì con.
- Thế bà ấy đâu? Để tôi mời bà ấy ngủ chơi đằng này với tôi cho vui.
- Cảm ơn bà, dì con vội, lại đi ngay từ chiều.
- Lần sau, anh nhớ mời bà ấy ở lại ăn cơm nhé.
- Vâng.
Rồi nói giọng dỗ dành, bà chủ hỏi:
- Thế còn mấy tháng cơm nữa, bà có hẹn bao giờ đưa tôi nốt không?
- Thưa bà, u cháu khất bà ít lâu nũa.
- Thôi được. À, tối nay có rét thì lên mà ngủ với ông cho ấm nhé.
Đức sung sướng, đáp:
- Vâng.
Bà chủ vuốt ve tóc Đức, nói:
- Thắp đèn lên mà học nhé.
- Vâng.
Từ lúc ấy, bà không nhìn Đức bằng đôi mắt khoằm khoặm nữa. Bà bỗng tử tế lạ lùng.
Rồi bà tử tế hơn nữa kia. Từ hôm sau, bà nuôi một thằng nhỏ, để hầu hạ thay cho Đức. Mà cứ
tối tối bà tự tay thắp đèn cho Đức học. Thỉnh thoảng, bà lại quên hẳn chuyện trước mà khuyên
rằng:
- Phải chăm mà học mới được, anh ạ. Lúc bé, nếu không chịu vất vả một tí, thì lúc lớn sẽ thấy
vất vả bằng mười. Vặn đèn to lên mà học chứ. Để bé thế này hại mắt anh ạ.
Tấm lòng của bà chủ thế nào, Đức hiểu hết. Song Đức không muốn nói ra, vì dù thế nào mặc
dầu, Đức cũng phải biết ơn bà ấy. Bà ấy đã cho Đức ăn chịu mấy tháng để có chỗ mà học.
Vả lại Đức, nào đã khỏi được nỗi lo! Tháng sau, Đức lấy gì mà đưa bà chủ? Người nào đó, vì tử
tế mà cho tiền, bất quá một lần là cùng. Chứ ai phí của lại làm phúc kín đáo như thế mãi được.
Ra trường, Đức hớn hở vui đùa. Anh em bạn chế nhạo, Đức chỉ đáp lại bằng nụ cười mỉm. Nhiều
anh thách Đức đọc bài thi, Đức chỉ lắc đầu, vờ không thuộc, hoặc làm bộ ấp úng, để các bạn
cười ồ.
Nhưng khi vào lớp, cả từ thầy cho đến bạn, ai cũng phải ngạc nhiên vì Đức đọc trơn một cách
không ngờ. Anh em thì thào:
- Hôm nay trời đi vắng.
Thầy cũng tủm tỉm khen:
- Nếu bận sau, anh cứ làm việc chăm chỉ, thì anh sẽ không đóng vai hề như mọi ngày nữa.
Đức hớn hở về chỗ ngồi, như người đã trả được mối thù lớn vậy.
Trước, bà chủ hay hành hạ, thầy giáo bắt đầu ghét bỏ, anh em bạn quen thói bắt nạt. Nay tự
nhiên mọi người đều xử với Đức khác hẳn lại. Không ai dám khinh Đức nữa. Đức thấy vì chăm
chỉ mà được sung sướng như thế nên càng ham học.
Bà chủ rất chiều chuộng Đức. Mãi đến hôm thứ sáu, thấy Đức khêu đèn to để học khuya, bà mới
ngọt ngào bảo:
- Thôi đi ngủ, anh ạ. Tôi chói mắt quá.
Biết ý, Đức vặn bé ngọn đèn lại, và mắt nhìn vào chữ mà bụng để đi đâu ấy, Đức lo.
Anh em bạn hay lại chơi với Đức lắm.
Nhất là những người lười và kém, thì càng thích làm thân với Đức, để một vài khi hỏi han, hoặc
mượn sách chép bài tính.
Thôi thì, lúc giờ ra chơi, anh Tam bao giờ mua quít cũng không quên mời Đức một nửa. Anh
Thi có cãi nhau với anh Phúc, thì tất nhiên phải dùng Đức để làm quan tòa. Đức thật là danh
giá.
Cuối tuần lễ ấy, cộng nốt, Đức ngồi vọt lên thứ tư.
Cuối tuần lễ sau, Đức nhảy lên ngồi đầu.
Rồi Đức ngồi đầu mãi. Chẳng anh nào đè nổi Đức bài thi nào cả.
Thành ra Đức lại truyền ngôi vua Zéro cho anh khác.
Một hôm, thầy giáo lấy Đức làm thí dụ để khuyên bảo các anh em trong cả trường.
Cho nên ở trường, hễ nói đến tên Đức thì ai cũng hiểu nghĩa là thông minh, chăm chỉ và ngoan
ngoãn. Đến nỗi chữ Đức rồi thành ra tiếng thông thường đủ các nghĩa ha
Tấm Lòng Vàng - Nguyễn Công Hoan
1. Vua Zéro
2. Ai?
3. Lúc vẻ vang
4. Phân vân
5. Hối hận
6. Tháng ngày qua
7. Quan huyện
8. Thầy trò
9. Tính việc
10. Công việc
11. Lòng mẹ
12. Những ngày cuối cùng
Tấm Lòng Vàng
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Nguyễn Công Hoan
I
Vua Zéro
Này! Các anh! Thế nào nhỉ? Ở đám tế, muốn bảo đứng dậy, họ xướng thế nào nhỉ? Hơơơng. À
phải...
Nói xong, anh Tam khuỳnh hai tay ra đằng trước, dài giọng ra mà:
- Hơơơng!
Tiếng cười rầm rầm:
- Kìa vua Zéro! Ngài có nghe tiếng không?
- Ngài lờ mãi! Ngài quỳ gan thế!
Tiếng vỗ tay đôm đốp:
- A hay! Hơơơng! Đức ơi! Hơơơng! Ơ nó cứ quỳ bạt mạng đi thôi!
Anh em cười nôn ruột. Nhưng thầy giáo hất tay, bắt mọi người đi chơi xa.
Từ lúc ấy, sân trường mới được vui vẻ. Chỗ này, vài anh đuổi nhau. Chỗ kia, vài anh rủ nhau
đánh bi. Cạnh hàng rào anh Thơm nhồm nhoàm chiếc bánh tây. Ở góc trường, anh Lục hút
thuốc lá vụng. Anh Đa, anh Banh khoác tay nhau, đi bách bộ, lầm bầm đọc bài chốc nữa. Anh Tý
vạch xuống đất để hỏi anh Học bài tính vừa rồi.
Chẳng còn ai để ý đến Đức đang quỳ ở góc lớp ba như ban nãy nữa. Ông giáo Chính ngồi ở bàn
giấy, gấp quyển vở lại, gọi:
- Đức! Anh lại gần đây.
Rồi thầy nghiêm nét mặt, nhìn Đức. Đức, khoanh tay, cúi gầm, e lệ đến cạnh bàn thầy đứng im.
Ông giáo trỏ quyển vở, trang nghiêm nói:
- Anh không đáng tên là Đức! Anh ngẩng lên nhìn tôi đây.
Đức sợ hãi, thưa:
- Dạ!
- Vở anh giữ rất sạch sẽ, sao không bài nào anh thuộc!
Đức im lặng, không đáp.
- Tôi nhận thấy độ ba tháng nay, anh đổi khác hẳn. Trước anh chăm chỉ bao nhiêu, nay anh lười
biếng bấy nhiêu. Tại làm sao thế?
Đức vẫn không đáp.
- Tôi rất không bằng lòng. Các bạn anh đặt tên anh là vua Zẻro! Anh hay phải phạt! Anh có xấu
hổ không?
Thẹn thùng, Đức khẽ đáp:
- Bẩm thầy, có.
- À, có! Vậy sao anh không chịu học? Sao anh còn lười? Lười đến nỗi cả quần áo cũng để bẩn
thỉu quá! Tôi tiếc cho anh rất sáng dạ. Anh phải biết, người sáng dạ đến đâu mà lười, cũng
không bằng người tối dạ mà chăm. Tôi phạt anh là để anh sửa lỗi. Nhưng nếu anh không sửa
lỗi, thì từ nay tôi không phạt nữa.
Đức cảm động, hai mắt mọng những nước.
Ông giáo nói tiếo:
- Trước anh là một người học trò rất ngoan ngoãn. Tôi tưởng lên lớp này, anh vẫn ngồi đầu như
năm ngoái ở lớp tư. Thế mà chỉ được một tháng, rồi anh đổi khác hẳn. Tuy trong lớp, anh
không nghịch ngợm, anh chịu khó nghe, anh trả lời được những câu hỏi khó, nhưng đến bài học
là anh không thuộc bao giờ, có khi bài làm, anh cũng bỏ dở. Giá anh chịu khó một tí đã đủ hơn
anh em rồi. Vậy mà đến bây giờ, trong năm mươi người, anh ngồi thứ bốn mươi sáu! Anh có
thấy rằng anh học lùi lại không?
- Bẩm thầy, có.
- Tại làm sao anh về nhà không chịu học? Có phải anh đã làm phiền cho cha mẹ tốn kém vì anh
không?
Nói xong, thầy im, nhìn Đức một lúc để cho lời nói ấy thấm thía đến tận đáy lòng ĐứcThì quả nhiên, ở mắt Đức, hai giọt nước ứa ra, to dần, rồi chảy dài xuống má.
Nhưng thầy vờ mắng:
- Anh còn cho là oan, phải không?
Đức lấy vạt áo chùi nước mắt, đáp:
- Bẩm thầy, không phải thế ạ.
- Được, thầy me anh có nhà không? Rồi tôi đến chơi để mách rằng anh lười biếng.
Đức nức nở, khóc to ra tiếng.
Ông giáo lấy làm lạ, hỏi to:
- Sao anh khóc?
- Bẩm thầy, con có dám lười đâu.
Thấy câu nói vô lý, thầy cau mặt lại. Nhưng rồi thầy cười gằn và hỏi vặn:
- Hừ! Anh không dám lười! Thế tại làm sao không bài nào anh thuộc? Anh ở nhà làm gì?
Đức run run đáp:
- Bẩm thầy, tại ở nhà, con không được học.
Rồi Đức òa lên khóc.
Ông giáo nhìn Đức, chừng cũng cảm động, ông thở dài. Rồi nghĩ ngợi một lúc, chờ cho Đức lau
nước mắt, ông dịu dàng, hỏi:
- Tại làm sao anh không được học? Anh nói dối! Ai cấm anh học?
- Bẩm thầy, bà chủ nhà con.
- Nhà trọ ấy à?
- Vâng.
- Tại làm sao?
- Tại bà ấy không cho con học.
- Sao lại không cho?
- Bẩm thầy, đã bốn tháng nay, con không trả tiền trọ.
Ông giáo ngồi thẳng lại, cau mặt nghĩ rồi hỏi:
- Nhưng bà ấy cấm anh học bài à?
- Bẩm không cấm, nhưng con không có lúc nào để học bài cả.
- Thế buổi sáng, sao anh không chịu khó dậy sớm để học?
- Thưa thầy, sáng nào con cũng dậy từ bốn giờ. Nhưng con phải thổi cơm để bà ấy ăn rồi đi chợ.
Khi con rửa bát và cho lợn ăn xong, thì đã gần giờ học.
- Buổi trưa?
- Buổi trưa, bà ấy giao cho con nhuộm vải hoặc kiếm củi.
- Buổi chiều, nhiều thì giờ, sao anh không học sẵn?
- Buổi chiều, tan học, con phải đi đón gánh hàng cho bà ấy. Rồi về nhà thổi cơm. Bữa ăn người
và bữa ăn lợn xong là vừa tối.
- Thế lúc xong việc, anh để thì giờ làm gì?
- Bẩm thầy, hôm nào con không phải chia bài, thì bà ấy sai con các việc lặt vặt. Con chẳng được
lúc nào rỗi cả. Con biết rằng con lười học thì thầy ghét, nhưng con biết làm thế nào?
Đức nói đến đây, lại bưng mặt khóc. Rồi một lát, Đức thưa:
- Thấy không có thì giờ làm việc nhà trường, nhiều bận con muốn xin phép thầy thôi học,
nhưng con lại tiếc. Con tiếc kỳ thi Sơ học yếu lược sắp tới này.
Ngẫm nghĩ hồi lâu, thầy hỏi:
- Thế nhà anh không có đày tớ à?
- Bẩm thầy, đã ba tháng nay bà chủ con cho thằng nhỏ về, nói rằng đã có con thay nó.
Ông giáo nhăn mặt, đăm đăm đôi mắt:
- Thế bà ấy có hay đánh anh không?
- Bẩm có, vừa đánh, vừa hay nhiếc. Thỉnh thoảng, con đi mượn sách, bà ấy cũng bảo con đi
chơi, dọa đuổi mấy lần.
- Thầy anh đâu?
- Bẩm thầy, thầy con mất rồi.
- Thế me anh?
Đức lặng người, không đáp được. Ông giáo hỏi gặng:
- Thế me anh đâu?
- Bẩm thầy, u con đi lấy chồng.
- U anh không cho anh tiền cơm nữa à?
- Bẩm thầy, trước thì tháng nào u con cũng gửi tiền cho, mỗi tháng ba đồng. Nhưng một độ, con
không thấy u con cho tiền. Rồi dì con qua huyện, nhắn cho con biết rằng u con mới mất độ
tháng chín.
Ông giáo Chính động lòng, nhìn Đức, thương hại. Nhưng hình như ông thấy có một chỗ vô lý
trong câu nói của Đức, bèn hỏi:
- À, anh bảo u anh mất, sao tôi không thấy anh để tang?
- Bẩm thầy, con không có khăn áo tang. Mà dù có cũng không dám mặc, vì sợ bà chủ con biết
con mồ côi, thì đuổi con thật.
- Thế anh vần giấu bà chủ à?
- Vâng, vì nhà u con ở xa đây lắm.
Ông giáo Chính cắn môi, ra ý nghĩ ngợi, rồi lại nghiêm mặt, nói:
- Thễ họ hàng thân thích anh, có ai ở gần đây không?
- Bẩm, không có ai ở gần đây, vì họ hàng cha dượng con thì ghét con, mà họ hàng cha đẻ con thì
bỏ con. Họ ngoại con nghèo quá.
Thầy lặng một lúc, nhìn Đức, rồi nói:
- Nhưng dù thế nào, anh cũng phải chăm chỉ, vì anh là học trò. Thôi, cho ra chơi.
Đức ngậm ngùi, ra hiên rồi xuống sân. Ông giáo nhìn theo, rồi sang lớp khác.
- A ha! Vua Zero!
- Hơơơng!
Anh em túm lại chế nhạo. Đức đứng thần người ra, ủ rũ như con gà bị nước mưa, không cười
không nói.
Anh Tam đến gần Đức, chắp hai tay, vái một cái thật dài, rồi bắt chước Đức lúc không thuộc bài,
khoanh tay nhìn lên trần, vân vê chiếc khuy áo.
Anh Sinh bưng miệng bấm anh Tòng, khẽ nói:
- Gớm, tóc nó dài và xù như cái mái nhà rơm mới lợp.
Anh Bàng, đứng sau Đức, ghé mặt vào cổ áo, rồi bịt mũi.
Anh Tụng vờ trỏ cái núi đằng xa nhưng quặp hai ngón chân vào chỗ rách ở quần Đức, giật
mạnh cho toạc to ra.
Thấy vậy, anh Tam cười sằng sặc, pha trò thêm:
- Để cái cửa sổ rộng cho nó mát. Ồ! Quần vua Zéro thêu hoa thịt, chúng mày ạ.
Nhưng ông giáo thấy tiếng cười ầm ầm, chạy ra. Anh em tản mỗi người một nơi, xong còn quay
lại nhìn Đức, bộ dạng bơ phờ, mà nhăn răng ra cười. Các anh ấy cười cái áo thâm nước dưa vừa
rộng vừa dài như áo mượn.
Đức vẫn đứng im như không tủi thẹn vì sự chế giễu thâm ác của bạn, mà chỉ tủi thẹn vì cái tình
cảnh khốn nạn của mình vừa giãi bày với thầy giáo Chính mà thôi.
II
Ai?
Buổi học chiều hôm ấy, Đức lại làm cho anh em trong lớp phải một phen nhịn cười không
được: Đức lại không thuộc bài.
Ai nấy đều tròng trọc nhìn Đức và sắp sẵn miệng để cười.
Cạnh bàn thầy, Đức đứng khoanh tay, mặt tái xanh, ấp a ấp úng mãi:
- Thấy người i-a hoạn nạn thì i-a thương.
I-a thấy i-a người tàn tật i-a lại càng trông i-a nom.
Người ngồi bàn đầu khẽ nhắc Đức, nhưng thầy gõ thước vào bàn, nói:
- Im!
Mọi bận, muốn chế nhạo những anh lười biếng, thầy hay bắt chước bộ dạng lúng túng lúc
không thuộc bài. Thầy vớ hòn phấn, thầy vân vê khuy áo nách, thầy trợn mắt nhìn lên trên trần,
thì học trò phải cười nôn ruột.
Trái lại, lần này thầy cứ ngồi nghiêm chỉnh, chẳng nói chẳng rằng, nên mọi người im lặng và
đều yên trí rằng vua Zéro lại được ăn trứng của thầy.
Vậy mà lạ quá, thầy thấy Đức đứng ngay như tượng gỗ, lại không hề nói năng một câu nào.
Thầy nhìn Đức ra ý chán nản, rồi đặt bút xuống bàn, thở dài và hỏi cả lớp:
- Như thế này thì đáng sửa phạt bằng cách gì?
Anh em nhao nhao nói:
- Thưa thầy, đáng Zéro ạ.
- Thưa thầy, phạt quỳ ạ.
Nghe xong, thầy nhìn Đức, lắc đầu cười lạt, bảo:
- Nhưng mà... mời anh về chỗ!
Thấy cách sửa phạt ngọt ngào này còn đau đớn bằng mấy con Zéro, bằng mấy mươi lần chép
phạt, bằng mấy mươi buổi quỳ, bằng mấy giờ nghe mắng, Đức cúi đầu, lủi thủi về chỗ, mặt đỏ
như gấc. Rồi, nhớ lại câu thầy hẹn lúc sáng, Đức tủi thân gục đầu xuống bản.
- Thưa thầy, anh Đức khóc ạ.
Nghe tiếng anh Chi mách, Đức vội vàng lau nước mắt, ngẩng mặt lên. Đức thấy bạn bè anh nào
cũng có ý giễu cợt mình, lại thấy thầy giáo ghét bỏ, hờ hững thì lấy làm oán trách cả mọi người.
Đến giờ chơi, Đức cố ý ra sau cùng để mong thầy gọi, và được nghe xem thầy trừng phạt những
gì, nhưng mà không, thầy thu xếp sách vở, rồi cũng ra đứng ở hè, nói chuyện với thầy giáo lớp
khác.
Đức đứng yên một chỗ, lắng tai nghe, thấy thầy giáo đang phàn nàn về mình và nói rất to với
các thầy giáo khác:
- Nó lại không thuộc bài! Nhưng ai hơi đâu mà phạt!
Đức tái mét mặt, rùn cả mình.
Bỗng anh Thi chạy đến, bảo:
- Kìa anh Đức, các thầy gọi.
Đức sợ hãi, thong thả lại chỗ các thầy đứng. Vừa đến nơi, ông giáo Chính như gớm mặt Đức,
không nói gì cả, lững thững đi về lớp.
Đức thấy vậy, càng tủi thân. Anh em bạn xúm quây xung quanh, lại làm cho Đức bối rối thêm
nữa.
Ông giáo Tuệ ôn tồn khuyên bảo:
- Anh không thuộc bài, thầy giáo không bằng lòng đâu. Phải chăm học như năm ngoái mới
được chứ!
Đức khoanh tay, nhìn xuống, không nói gì. Đức không nói gì, vì Đức cho rằng nếu kể lại cho các
thầy biết cái cảnh nhà mình, tất anh em bạn nghe thấy, họ sẽ chế nhạo, và, dù các thầy có biết,
mình cũng không được ích gì hơn.
Thầy giáo trỏ tay ra đường, nói:
- Kìa anh trông, cái xe kia chất nặng những bồ cùng đẫy, người phu xe gò lưng cố miết không
được một bước...
Bỗng, học trò kéo cả ra bờ rào, reo!
- A, thằng ăn cắp!
Thầy giáo lại bảo:
- Anh nhìn kia, thằng ăn cắp, người ta trói nó, giải nó về huyện. Anh có thấy người lính đi cạnh
nó, tay cầm cái roi mây hay không?
- Thưa, có ạ.
Ngay lúc ấy, có chiếc ô-tô ù ù đi tới bốp còi inh ỏi. Các người gồng gánh đi giữa đường luống
cuống chạy tán loạn, người đâm sang bên trái, người dồ sang bên phải. Chiếc xe vội hãm máy
lại. Người tài xế thò cổ ra chửi rủa cục cằn.
Thầy giáo nói:
- Suýt nữa thì có người bị chẹt.
Rồi thầy lại nhìn Đức, ôn tồn nói:
- Bên mình anh bao nhiêu gương to tầy liếp. Người phu xe phải sống một cách vất vả. Thằng ăn
cắp phải làm những cách đê nhục. Bác nhà quê, vì ngờ nghệch quá, đến nỗi suýt bị thiệt thân,
vậy anh có biết những người ấy vì sao phải khổ sở như thế không?
Khe khẽ, Đức đáp:
- Bẩm thầy, vì họ không có học.
Thầy gật đầu:
- Phải rồi, những người ấy rất đáng thương. Nhưng anh có biết vì sao họ không học?
Ngẫm nghĩ một lúc, Đức ngậm ngùi, trả lời:
- Bẩm thầy vì họ nghèo.
Các thầy nhìn Đức, có ý cảm động về câu nói bất ngờ.
Ông giáo Tuệ lại nói:
- Tình cảnh anh thế nào, sáng nay thầy giáo vừa nói chuyện cả. Nhưng anh không nên lấy cớ
rằng nghèo mà xao lãng sự học. Anh chẳng thấy ngày xưa, có người vừa kiếm củi vừa học, lại
buổi tối không có đèn thì bắt đom đóm bỏ vào trong quả trứng để lấy ánh sáng hay sao? Không
nên bỏ phí tuổi trẻ, rồi lúc lớn lên lại tiếc. Thôi, đi chơi.
Đức chào các thầy, len lén ra góc sân.
- Ê, Đức nặng đực, động đứng đọc bài là đực mặt ra.
Rồi tiếng cười, tiẽng vỗ tay đồn dập.
Nhưng ông giáo Nhượng xua tay, mắng:
- Im! Không được thế. Đi chơi cả!
Ngẫm nghĩ lời thầy Tuệ, Đút như thấy rõ cái đời khốn nạn của mình về sau. Làm thế nào được?
Đức thông minh, có chí, nhưng không được học. Về đến nhà, Đức còn bao nhiêu công việc, có
lúc nào rảnh để nhìn đến sách vở nhà trường. Thế thì ngày sau, tất Đức phải hèn hạ, phải kéo
xe, phải ăn cắp, hoặc phải ngờ nghệch.
Đức nhìn vào lớp, thấy các thầy nói chuyện vui vẻ. Ở sân, các anh em chạy nhảy, cười đùa.
Riêng mình đứng tiu nghĩu một nơi. Đức tiu nghỉu vì đã làm thiếu bổn phận.
Bỗng ba tiếng trống học. Đức cùng anh em sắp hàng vào.
Đức ngồi ở chỗ, chán ngán quá. Đức thấy quanh mình, cả từ thầy giáo đến bạn bè không ai
thương hại tình cảnh Đức cả.
Mà nhất là thầy, thầy đã hất hủi đứa trẻ mồ côi nghèo khổ.
Hết giờ thể thao, Đức vội vàng mặc quần áo để về. Hết lo việc trường, lại nghĩ đến việc nhà, Đức
sợ.
Đến nhà, Đức cất sách, cởi cái áo thâm ngoài ra, rồi đi đón bà chủ.
Nhưng vừa đến cửa, Đức đã thấy bà chủ về tới nơi. Bà nhìn Đức, nghiến răng, nói:
- Tao chờ được mày nữa thì vừa. Thật là toi cơm! Còn đi nghịch phải không? Mai có nẻo thì
bước!
Rồi bà đặt gánh, tìm chiếc roi, vụt lấy vụt để vào lưng Đức và kể lể:
- Mấy tháng cơm mày không trả được, bà chỉ đánh cho sướng tay thôi.
Đức đau quá, nhưng không dám khóc, mà cũng không dám cãi.
Lúc cho lợn ăn, Đức ngồi ở cạnh chuồng, vừa mở quyển vở được vài tờ toan học, bỗng đánh đét
vào lưng, Đức lại bị một roi đau quắn:
- Mày chăm học vừa vừa chứ. Mày không nghiêng cái lon thì nó ăn thế nào. Muốn chăm học thì
bước, tao không hoài cơm!
Rồi bà phăm phăm vật Đức ngã xuống, vụt túi bụi.
Bỗng bên hàng rào có tiếng can:
- Bà Phó ơi! Thôi, bà đừng đánh nó, tội nghiệp!
Đức nghe rõ tiếng bà cả Tài. Một lát, bà cả Tài lại nói:
- Tối hôm nay, bà cho tôi nhờ thằng Đức sang giã hộ cối gạo. Độ đến cuối trống hai nhé.
Bà chủ đáp một cách phũ phàng:
- Bà để cho đến tối. Nó còn phải gánh đất. Chả sai nó cho bõ cũng dại.
Đức nghe, lấy làm đau đớn lắm.
Dọn dẹp và làm công việc ở nhà xong. Đức thu quyền vở vào trong bụng, xin bà chủ sang nhà
bà cả Tài.
Đến nơi, bà cả Tài đặt vào gan bàn tay Đức một xu, và dịu dàng nói:
- Tôi thấy bà ấy đánh anh, tôi thương hại quá, nên mới vờ mượn anh sang đây. Đây, tôi thuê
anh đồng xu này, anh giã giúp tôi cối gạo nhé.
Đức lắc đầu, đáp:
- Bà cho cháu mua xu dầu tây và cho cháu mượn cái đèn, cháu vừa làm giúp bà, vừa học.
- Thế ở nhà, anh không được học à?
- Bà tính còn lúc nào cầm được đến quyển sách!
Ngậm ngùi, bà Tài bảo:
- Anh trọ học chứ có phải đi ở đâu mà để bà ấy sai và đánh như đày tớ thế?
Đức cười lạt, đáp:
- Vì mấy tháng nay, cháu không có tiền trả bà ấy.
- Thế à? Thế thì làm thế nào?
Đức ngẫm nghĩ, càng quyết định xin thôi học. Một đứa trẻ con như sức Đức, không thể vừa làm
đày tớ, vừa làm học trò. Đức cần phải sống, thì cách kiếm cơm ngay bây giờ, không gì hơn là đi
ở để đổi lấy bát cơm nuôi thân, Đức đáp:
- Cháu muốn xin thôi học, vì đi học mà lười thì thầy giáo và anh em ghét lắm.
Rồi Đức kể cho bà Tài nghe những câu chế nhạo của bạn. Bà cả Tài ra ý thương hại, bảo:
- Anh sang đây ở với tôi, tôi nuôi cho, anh sẽ có thì giờ mà học. Bỏ phí tuổi trẻ không nên, anh
ạ. Hay là từ mai, tôi nói thác với bà chủ anh cho anh sang đây giã gạo hộ tôi, tôi sẽ cho anh
mượn đèn mà học.
Bà cả Tài lấy chiếc đèn hoa kỳ, đưa Đức. Đức đặt quyển vở trên phản, rồi xuống bếp thổi lửa để
châm đèn.
Bà cả Tài đổ gạo vào cối xong, dặn:
- Anh chịu khó cẩn thận, tôi đi đằng này một tí nhé.
Đức tìm chỗ để đèn cho vừa tầm mắt, rồi chân thì dận cối, tay thì giở vở, nhưng chán ngán lạ
thường. Thấy bà cả Tài tử tế, Đức cũng biết vậy, chứ chắc đâu bụng bà ấy có thực tốt không.
Đức quyết định hôm sau xin bỏ học. Nhưng Đức muốn học các bài cho thật thuộc, để thầy giáo
và bạn bè đừng khinh mình, rồi hãy xin thôi. Thấy sắp được xa lánh bọn anh em thâm độc, sắp
khỏi phải trông thấy thầy giáo lúc nào cũng nghiêm khắc, chỉ rình phạt, rình mắng, rình khuyên
bảo những câu không làm cho Đức được no lòng, Đức sung sướng, nhẹ nhõm cả người. Rồi nghĩ
ngợi. Đức thấy tủi thân, giận thầy, ghét bạn và thù bà chủ.
Trong khi óc đang vơ vẩn, Đức lần lần giờ từng tờ trong quyển vở. Mỗi bài học lại nhắc cho Đức
những buổi phải phạt, những câu mắng. Đức như trông thấy thầy giáo ở trước mặt, Đức khó
chịu lắm.
Bỗng Đức dừng tay lại, kinh ngạc, Đức trợn to mắt ra, ghé vở vào tận ngọn đèn. Đức mừng rú
lên, bâng khuâng, tưởng như mình vừa chiêm bao thấy một chuyện thần tiên huyền hoặc. Rồi
Đức rơm rớm nước mắt. Đó là chuyện thực.
Ba tờ giấy bạc một đồng gài chéo trong sách, bay lật trước luồng hơi thở nóng hôi hổi của Đức.
Đức rủn cả người, trống ngực đánh mạnh. Thổn thức đến nỗi không đận được cối nữa, Đức gập
quyển vở, ôm vào ngực mà thở dài.
Đối với Đức, ai là người đã có tấm lòng vàng? Đức cố nghĩ mãi. Bà cả Tài chăng? Thầy giáo Tuệ
chăng? Anh bạn nào chăng? Hay là ai? Thế thì ai? Ai được?
Bụng Đức rối beng! Nhưng ai thì ai. Đức hãy lấy món này để trả tiền trọ cho bà chủ đã...
III
Lúc vẻ vang
Đức run run, cất bạc vào túi. Từ thuở bé, Đức có món tiền to thế này là lần đầu. Ngẫm nghĩ, Đức
đoán già là chính bà cả Tài đã lừa cho Đức thổi lửa ở dưới bếp, mà gài ba đồng bạc vào sách rồi
muốn giữ kín, bà vờ đi chơi.
Đức cố rồi dò cho ra ai là vị ân nhân này.
Từ lúc ấy, Đức dận cối rất nhanh nhẩu, quên cả mệt. Đức học bài cũng chóng thuộc quá, chẳng
bù với mọi lần, càng bận việc, càng lo học, thì không tài nào nhớ được một chữ.
Một lúc lâu có tiếng bà chủ gọi ở bên kia hàng rào:
- Đức! Mày chết ở bên ấy hay sao mà không về thế?
Đức cười thầm, đáp:
- Dạ, con đây. Con chờ bà cả, rồi con về.
- Thôi, nửa đêm rồi. Mau lên, nỡm ạ.
Nghe cái giọng thc thé, Đức lại tưởng tượng đến bộ mặt cay nghiệt của bà chủ mà sợ. Vừa chưa
kịp trả lời, Đức đã thấy bà cả Tài về, vì vội vã giục Đức:
- Thôi, anh về đi. Ở ngoài đường, tôi cũng nghe thấy tiếng bà ấy gọi anh đấy.
Đức ngần ngừ, toan nói chuyện món tiền khi nãy:
- Bà ạ.
Bà cả Tài lại giục:
- Thôi, mai hãy hay. Mai tôi lại nói với bà ấy nhờ anh sang đây nhé.
- Vâng. Cháu đội ơn bà nhiều.
Dứt lời, Đức lật đật chạy về.
Bà Phó thấy Đức thì hầm hầm xỉa xói vào mặt mà mắng:
- Chà ở bên ấy được chơi mà, mày chỉ biết ăn hại thôi.
Nói xong, bà giơ thẳng tay, phát vào lưng Đức một cái rõ mạnh. Đức rúi, suýt ngã.
Đức câm như hến, không dám nói đi nói lại nửa lời. Bà chủ càng tức:
- Làm sao trong bếp mày để trấu bừa bãi ra thế kia? Muốn sống thì xuống mà quét đi không?
Đức lừng lững xuống bếp. Thấy thằng khốn nạn bao giờ bị mắng cũng gan góc, bà Phó còn quát
theo một câu:
- Mặt thì sì sì ra! Ai người ta cũng phải tởm.
Lần này bị diếc móc, Đức không tủi thân tí nào, vẫn vui vẻ như thường. Đức thu dọn xong, rồi
lên nhà trên. Thấy bà chủ vẫn còn đầy vẻ giận dữ, Đức mon men lại gần, tay móc túi lấy tiền,
miệng tủm tỉm cười, nói:
- Thưa bà...
Bà chủ vội nghiến răng, đáp:
- Thưa với bẩm gì? Mày đừng khéo vờ. Đi mà ngủ...
- Thưa bà, con nộp bà...
Bà chủ vẫn quát:
- Nộp gì?
Đức thò giấy bạc ra, vẫn nhếch mép cười, nói tiếp:
- Thưa bà, tiền cơm.
Bà chủ cúi trông tay Đức, rồi trố mắt lên mà nhìn. Khi không còn ngờ gì nữa, bà vội đổi ngay ra
nét mặt tươi cười, vui vẻ, và dịu dàng hỏi:
- Kìa, anh trả tiền cơm tôi đấy à?
Đức hả dạ, khẽ đáp:
- Vâng.
Nói xong, Đức đưa mắt nhìn nét mặt đáng khinh của bà chủ. Bà chủ âu yếm hỏi:
- Ai gửi cho anh tiền thế?
- Thưa bà... Thưa bà...
Đức ấp úng, nghẹn lời, bởi vì chưa biết đáp thế nào cho có lý được. Bà chủ lại hỏi dồn:
- U anh gửi cho anh có phải không?
Sẵn câu ấy, Đức cứ nói:
- Vâng.
- Hà! Hà! Thế sao anh không mời u anh vào chơi với tôi một tí? Thế u anh qua đây lúc nào?
- Thưa bà, u con gửi dì con.
- Thế bà ấy đâu? Để tôi mời bà ấy ngủ chơi đằng này với tôi cho vui.
- Cảm ơn bà, dì con vội, lại đi ngay từ chiều.
- Lần sau, anh nhớ mời bà ấy ở lại ăn cơm nhé.
- Vâng.
Rồi nói giọng dỗ dành, bà chủ hỏi:
- Thế còn mấy tháng cơm nữa, bà có hẹn bao giờ đưa tôi nốt không?
- Thưa bà, u cháu khất bà ít lâu nũa.
- Thôi được. À, tối nay có rét thì lên mà ngủ với ông cho ấm nhé.
Đức sung sướng, đáp:
- Vâng.
Bà chủ vuốt ve tóc Đức, nói:
- Thắp đèn lên mà học nhé.
- Vâng.
Từ lúc ấy, bà không nhìn Đức bằng đôi mắt khoằm khoặm nữa. Bà bỗng tử tế lạ lùng.
Rồi bà tử tế hơn nữa kia. Từ hôm sau, bà nuôi một thằng nhỏ, để hầu hạ thay cho Đức. Mà cứ
tối tối bà tự tay thắp đèn cho Đức học. Thỉnh thoảng, bà lại quên hẳn chuyện trước mà khuyên
rằng:
- Phải chăm mà học mới được, anh ạ. Lúc bé, nếu không chịu vất vả một tí, thì lúc lớn sẽ thấy
vất vả bằng mười. Vặn đèn to lên mà học chứ. Để bé thế này hại mắt anh ạ.
Tấm lòng của bà chủ thế nào, Đức hiểu hết. Song Đức không muốn nói ra, vì dù thế nào mặc
dầu, Đức cũng phải biết ơn bà ấy. Bà ấy đã cho Đức ăn chịu mấy tháng để có chỗ mà học.
Vả lại Đức, nào đã khỏi được nỗi lo! Tháng sau, Đức lấy gì mà đưa bà chủ? Người nào đó, vì tử
tế mà cho tiền, bất quá một lần là cùng. Chứ ai phí của lại làm phúc kín đáo như thế mãi được.
Ra trường, Đức hớn hở vui đùa. Anh em bạn chế nhạo, Đức chỉ đáp lại bằng nụ cười mỉm. Nhiều
anh thách Đức đọc bài thi, Đức chỉ lắc đầu, vờ không thuộc, hoặc làm bộ ấp úng, để các bạn
cười ồ.
Nhưng khi vào lớp, cả từ thầy cho đến bạn, ai cũng phải ngạc nhiên vì Đức đọc trơn một cách
không ngờ. Anh em thì thào:
- Hôm nay trời đi vắng.
Thầy cũng tủm tỉm khen:
- Nếu bận sau, anh cứ làm việc chăm chỉ, thì anh sẽ không đóng vai hề như mọi ngày nữa.
Đức hớn hở về chỗ ngồi, như người đã trả được mối thù lớn vậy.
Trước, bà chủ hay hành hạ, thầy giáo bắt đầu ghét bỏ, anh em bạn quen thói bắt nạt. Nay tự
nhiên mọi người đều xử với Đức khác hẳn lại. Không ai dám khinh Đức nữa. Đức thấy vì chăm
chỉ mà được sung sướng như thế nên càng ham học.
Bà chủ rất chiều chuộng Đức. Mãi đến hôm thứ sáu, thấy Đức khêu đèn to để học khuya, bà mới
ngọt ngào bảo:
- Thôi đi ngủ, anh ạ. Tôi chói mắt quá.
Biết ý, Đức vặn bé ngọn đèn lại, và mắt nhìn vào chữ mà bụng để đi đâu ấy, Đức lo.
Anh em bạn hay lại chơi với Đức lắm.
Nhất là những người lười và kém, thì càng thích làm thân với Đức, để một vài khi hỏi han, hoặc
mượn sách chép bài tính.
Thôi thì, lúc giờ ra chơi, anh Tam bao giờ mua quít cũng không quên mời Đức một nửa. Anh
Thi có cãi nhau với anh Phúc, thì tất nhiên phải dùng Đức để làm quan tòa. Đức thật là danh
giá.
Cuối tuần lễ ấy, cộng nốt, Đức ngồi vọt lên thứ tư.
Cuối tuần lễ sau, Đức nhảy lên ngồi đầu.
Rồi Đức ngồi đầu mãi. Chẳng anh nào đè nổi Đức bài thi nào cả.
Thành ra Đức lại truyền ngôi vua Zéro cho anh khác.
Một hôm, thầy giáo lấy Đức làm thí dụ để khuyên bảo các anh em trong cả trường.
Cho nên ở trường, hễ nói đến tên Đức thì ai cũng hiểu nghĩa là thông minh, chăm chỉ và ngoan
ngoãn. Đến nỗi chữ Đức rồi thành ra tiếng thông thường đủ các nghĩa ha
 





